Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Dị ứng với chất bảo quản thực phẩm

(Đỗ Đình Phú - Hậu Giang)

Từ lâu, người ta đã biết việc thêm chất chứa sulphite vào thức ăn sẽ làm chúng tồn tại lâu hơn và giữ được màu cũng như hương vị. Sulphite sẽ giải phóng chất khí sulphur dioxide, nó gây ra tình trạng kích ứng đường hô hấp và co thắt. Có ít hơn 2% dân số được tin là nhạy cảm với sulphite nhưng ở người bị hen suyễn thì tỉ lệ này cao hơn (5 - 13%).

Ở một số nước thì sulphite được xem như chất dị ứng tiềm tàng và phải được ghi trên nhãn thực phẩm hoặc thức uống nếu có chứa trong thành phần. Sulphite, bao gồm sulphur dioxide (SO2) là chất bảo quản thực phẩm chính được dùng để ngăn chặn sự thay đổi màu thực phẩm. Ở Nam Phi, sulphur dioxide thường được dùng trong bảo quản trái cây khô. Sulphite cũng được dùng rộng rãi trong rượu vang, bia và thức uống có cồn. Thuốc và mỹ phẩm cũng có chứa sulphite. Những loại thực thẩm thường chứa sulphite bao gồm: các loại bánh, nước trái cây, nước uống và rau quả đóng hộp, dưa món, khoai tây chiên… Các loại sulphite thường được đưa vào thực phẩm: sulphur dioxide, potassium bisulphate, potassium metabisulphate, sodium bisulphite, sodium dithionite, sodium metabisulphite, sodium sulphite and sulphurous acid.

Một nghiên cứu năm 2009 về tác động lâm sàng của chất bảo quản sulphite cho thấy có rất nhiều triệu chứng: viêm da, nổi mề đay, nổi mẩn đỏ, giảm huyết áp, đau bụng, tiêu chảy, phản ứng suyễn (phần lớn các nghiên cứu tường trình tỉ lệ 3 - 10% sự nhạy cảm trong nhóm người bị hen suyễn sau khi ăn thực phẩm chứa sulphite) và phản ứng phản vệ. Theo các chuyên gia thì ngoài triệu chứng cấp tính biểu hiện, sulphite còn có thể gây tác động lâu dài như tình trạng bệnh mãn ở ngoài da và hệ hô hấp. Có một số giả thuyết đặt ra nhưng vẫn chưa rõ ràng khi xác định nguyên nhân thật sự của sự nhạy cảm sulphate là gì.

BS.CKII. ĐẶNG MINH TRÍ

Ca sinh 5 kỳ lạ và nỗi éo le cuộc đời

Một hiện tượng y học kỳ lạ đầu thế kỷ XX

Vào ngày 28/5/1934, tại trang trại nhỏ ở làng Corbeil miền bắc Ontario, Canada, chị Elzire Dionne 25 tuổi, đã sinh hạ 5 bé gái giống hệt nhau. Sự kiện này gây chấn động không nhỏ bởi từ trước tới nay trên thế giới chưa hề có ca sinh nào như vậy. Năm chị em lần lượt ra đời và được đặt tên là Annette, Emilie, Yvonne, Cecile, và Marie. Tổng trọng của 5 chị em lúc chào đời chỉ đạt 6,3 kg. Ca sinh do bác sĩ Allen R. Dafoe đảm nhận với sự hỗ trợ của hai y tá. Chỉ vài ngày sau khi ra đời, 5 chị em Dionne đã được người ta mời tham gia triển lãm tại một hội chợ.

Bác sĩ đỡ đẻ Allan R. Dafoe và 5 chị em nhà Dionne trong lễ sinh nhật đầu tiên.

Nhiều người xem sự ra đời của 5 chị em nhà Dionne là một dấu hiệu phục hồi. Nhìn xa hơn, ca sinh trong hoàn cảnh bất lợi, nhưng tất cả lại tồn tại một cách đáng ngạc nhiên. Theo các chuyên gia Trung tâm Nghiên cứu song sinh thuộc Đại học California (Mỹ), khả năng song sinh cùng trứng (identical twins) chỉ có tỷ lệ 1/250 ca. Nếu sinh ba thì tỷ lệ này giảm, nhưng trường hợp của 5 chị em nhà Dionne quả là một ngoại lệ, nếu có cũng chỉ tồn tại một cách rất hi hữu, 1/1 tỷ ca sinh.

6 mẹ con Dionne.

Và cuộc đời thăng trầm của 5 chị em nhà Dionne

Sinh ra vào đúng lúc Đại khủng hoảng, gia đình lại nghèo nên 5 chị em nhà Dionne đã được chính quyền tỉnh Ontario xếp vào diện bảo trợ và ngay lập tức chính quyền tỉnh này đã phê duyệt đạo luật có tên Dionne Quintuplet Guardianship Act để bảo vệ ca đa sinh này.

5 chị em nhà Dionne trong lễ sinh nhật lần thứ 13.

Sau khi được 4 tháng tuổi, cả 5 được đưa tới Bệnh viện kiêm nhà trẻ Dafoe. Nhờ sự có mặt của 5 chị em nhà Dionne mà Dafoe trở nên hấp dẫn du khách thập phương trong những năm từ năm 1934 đến 1943. Mỗi ngày, bệnh viện kiêm nhà trẻ nói trên đã tiếp đón 6.000 lượt khách đến thăm. Dafoe hoạt động giống như một viện bảo tàng sống, có cả cảnh sát, người giúp việc và y tá. Năm đầu thu về 1 triệu đô la và khoảng 500 triệu đôla cho 9 năm tồn tại. Chưa hết, 5 chị em nhà Dionne còn được giới quảng cáo, phim ảnh săn đón. Nhiều ấn phẩm phim được ra đời như Five Times Five, The Country Doctor, Five of a Kind hay Reunion... Riêng phim Five Times Five (1939), từng được đề cử tại giải Oscar năm 1940.

5 chị em nhà Dionne trở thành chủ đề quảng cáo

Khi chị em nhà Dionne lên 9 tuổi, cha mẹ của họ đã giành lại được quyền nuôi con từ nhà chức trách, các cô bé trở về sống cùng gia đình. Cuộc sống của gia đình Dionne sau khi đón các con về có phần sung túc hơn, nhưng 5 chị em lại khó hòa nhập với đời sống gia đình, bởi Dionne liên tục xảy ra những bất đồng . Một trong 5 chị em là Emilie, đã quyết định vào sống trong nhà tu và qua đời sau một cơn tai biến năm 1954 khi mới 20 tuổi. Ở tuổi 21, nhà chức trách dành cho 4 chị em còn lại mỗi người một số tiền trị giá 250.000 đô như một phần đền bù nhỏ bé cho số tiền khổng lồ mà họ đem về cho chính quyền tỉnh khi còn sống trong Bệnh viện Dafoe. Sau này, 3 người đã kết hôn và sinh con, gồm Marie có 2 con gái, Annette có 3 con trai, Cecile có 5 người con, riêng Yvonne sống độc thân. Năm 1970, Marie khi đó đã ly thân, qua đời tại nhà riêng vì tụ máu não. Cuối thập niên 1980, khi Annette và Cecile cũng đều ly hôn, 3 chị em còn sống khi đó, gồm cả Yvonne không kết hôn, chuyển về sống chung với nhau ở thành phố Montreal, đến năm 2001, Yvonne qua đời.

lẫn phim ảnh.

Vào cuối thập niên 1990, các chị em nhà Dionne một lần nữa trở lại với truyền thông sau khi chính quyền Ontario quyết định tổ chức một cuộc điều tra công khai các quỹ của 5 người này do bị cáo buộc quản lý nhập nhèm. Cuối cùng, chị em nhà Dionne được xử thắng kiện với số tiền 4 triệu đô la. Cho tới hôm nay, vẫn còn 2 trong 5 chị em nhà Dione còn sống, gồm Annette và Cécile, hiện giờ đã bước vào tuổi 84, cả hai lựa chọn cuộc sống lặng lẽ cùng nhau tại Montreal. Năm 2017 họ đã xuất hiện trở lại trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi với tờ The New York Times. Hiện tại hai cụ Annette và Cécile Dionne đã khởi động một chương trình mới để duy trì kỷ niệm gia đình và nơi họ sinh ra tại North Bay. Dự án đã hoàn thành và sẽ mở cửa đón khách giống như một bảo tàng vào mùa hè tới.

Ảnh chụp năm 1995, ba chị em còn sống là Yvonne (trái), Annette và Cecile (phải) trước khi công bố tự truyện về bản thân và gia đình.

Khắc Hùng

(ripleys.com- 4/2018)

Sự thật về chóng mặt

Hodgkin’s Lymphom là bệnh gì?

(Văn Hải - TP.HCM)

Hodgkin’s lymphom theo thuật ngữ y khoa Việt Nam gọi là ung thư hệ hạch bạch huyết, hay còn gọi u lympho hodgkin. U lympho hodgkin là một trong hai loại phổ biến của bệnh ung thư hệ bạch huyết; các loại khác, u lympho không hodgkin phổ biến hơn.

Nguyên nhân chính xác của ung thư hạch Hodgkin cho đến nay các nhà khoa học vẫn chưa biết rõ. Tuy nhiên, có hai loại ung thư hạch Hodgkin chính là cổ điển và ung thư hạch Hodgkin có nhiều u nhỏ, được đề cập nhiều hiện nay. Hầu hết người có u lympho Hodgkin cổ điển, trong đó có bốn phân nhóm như u lympho hodgkin xơ nhiều u nhỏ, u lympho hodgkin hỗn hợp cellularity, u lympho hodgkin cạn kiệt tế bào lympho và u lympho hodgkin cổ điển giàu tế bào bạch huyết. Tất cả 5 loại nằm trong nhóm ung thư gọi là tế bào bạch huyết, căn bệnh ung thư của hệ bạch huyết. Hệ bạch huyết bao gồm các hạch bạch huyết nằm trong cơ thể và được kết nối gọi là hệ bạch huyết, còn các tuyến lá lách, tuyến ức và tủy xương cũng là một phần của hệ bạch huyết.

Triệu chứng ung thư hạch Hodgkin’s có thể bao gồm như: sưng nhưng không đau các hạch bạch huyết ở cổ, nách hoặc háng; mệt mỏi dai dẳng; sốt và ớn lạnh; đổ mồ hôi đêm; giảm cân không rõ nguyên nhân; ho, khó thở hoặc đau ngực; chán ăn; có thể bị ngứa.

Tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh mà bác sĩ chuyên khoa sẽ chỉ định phương pháp điều trị chính, hóa trị hay xạ trị. Trong xạ trị, sẽ sử dụng chùm tia năng lượng bức xạ cao để tiêu diệt các tế bào ung thư. Đối với hóa trị, sẽ sử dụng các loại thuốc để giết chết các tế bào ung thư, thuốc hóa trị có thể là đường uống hoặc tiêm qua tĩnh mạch.

BS.CKI.TRẦN QUỐC LONG

Công nghệ gene: Phát kiến kỳ diệu trong y học

Liệu pháp gene trong điều trị ung thư

Liệu pháp gene bắt đầu được xem xét trong các thử nghiệm lâm sàng và trong tương lai, liệu pháp này có thể được cân nhắc sử dụng cho các trường hợp ung thư ác tính có ít lựa chọn điều trị. Trong đó, kỹ thuật chuyển gene vào tế bào ung thư là một trong những khía cạnh khó nhất của liệu pháp gene. Nhưng các nhà khoa học đã tìm ra và sử dụng một số loại virut đóng vai trò vector xâm nhập và vận chuyển gene vào tế bào.

Liệu pháp gene đầu tiên được phê duyệt bởi Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) vào tháng 8/2017. Đây được xem như một dấu mốc lịch sử mở ra một cách tiếp cận mới đối với việc điều trị ung thư. Sản phẩm đầu tiên này là kymriah dùng trong điều trị ung thư bạch cầu Lympho ác tính trên đối tượng bệnh nhân trẻ em và thanh thiếu niên. Trong đó, các bác sĩ trích xuất tế bào T từ hệ miễn dịch của bệnh nhân, kết hợp nó với thụ thể kháng nguyên nhân tạo (CAR) để tạo thành tổ hợp CAR-T. Sau đó, tổ hợp này sẽ được truyền trở lại cơ thể bệnh nhân. Thụ thể CAR sẽ giúp tìm kiếm và đánh dấu các tế bào ung thư. Nhờ vậy, hệ miễn dịch có thể tấn công được bệnh ung thư.

Tiếp sau đó, yescarta là liệu pháp gene thứ hai được FDA chấp thuận. Đây cũng là liệu pháp gene đầu tiên điều trị cho một số thể của u lympho ác tính không Hodgkin, đặc biệt là u lympho thể lan toả tế bào B lớn, điều trị trên những bệnh nhân trưởng thành không đáp ứng hoặc tái phát sau ít nhất 2 loại điều trị.

TS. Scott Gottlieb - Ủy viên đại diện của FDA cho biết, các công nghệ mới như liệu pháp gene và tế bào có tiềm năng đổi mới y học và tạo ra một bước ngoặt điều trị giúp đem lại cơ hội chữa trị nhiều chứng bệnh khó chữa.

Hemophilia có thể được điều trị nhờ công nghệ gene

Mới đây, một báo cáo được trình bày tại Hội nghị Huyết học Hoa Kỳ cho thấy bệnh Hemophilia có thể được điều trị khỏi nhờ liệu pháp gene. Bệnh rối loạn đông máu Hemophilia là một căn bệnh rất đáng sợ. Gan của những người mắc căn bệnh di truyền này không thể sản xuất ra được một loại protein quan trọng, có tác dụng làm đông máu. Khi không có loại protein này, người bệnh sẽ luôn phải đối mặt với nguy cơ bị chảy máu mất kiểm soát, bao gồm cả chảy máu trong. Cho đến nay, vẫn chưa có bất kỳ biện pháp nào có thể điều trị hoàn toàn căn bệnh này. Tuy nhiên, hai nhà khoa học Michael Holmes và Thomas Wechsler của Viện nghiên cứu Sangamo, Richmond, California (Mỹ) tin rằng liệu pháp chỉnh sửa gene nhắm vào những gene lỗi này có thể chữa khỏi hoàn toàn Hemophilia. Các nhà khoa học sẽ sử dụng công nghệ chỉnh sửa gene có tên là CRISPR-9 để gỡ bỏ một đoạn DNA và thay vào đó một đoạn mới.

Công nghệ gene: Phát kiến kỳ diệu trong y họcVết thương vì bị chảy máu trong bệnh khó đôngHemophilia.

Biến đổi gene mang lại hy vọng trong cấy ghép tạng từ động vật

Một tiến bộ rất được chú ý giúp mở ra cánh cửa mới trong lĩnh vực cấy ghép tạng từ động vật đã được công bố trên Tạp chí Science mới đây.

Các nhà khoa học đã tạo ra những chú lợn con được biến đổi gene hoàn toàn sạch với các virut có thể gây bệnh ở người. Kết quả này một lần nữa thắp lên niềm tin vào việc cấy ghép gan, tim và các cơ quan khác từ lợn nói riêng và các loài động vật nói chung vào con người, mà trước đây các nhà khoa học đã từng bỏ cuộc. Nếu các cơ quan từ lợn được chứng minh là an toàn và hiệu quả thì ván cờ cấy ghép sẽ thực sự thay đổi.

TS. Jay Fishman - Giám đốc chương trình cấy ghép tại Bệnh viện đa khoa Massachusetts, Hoa Kỳ cho biết: Các nhà khoa học bắt đầu theo đuổi ý tưởng về cấy ghép các cơ quan lợn cho người vào những năm 1990. Tuy nhiên, vào năm 1998, TS. Fishman và các cộng sự đã phát hiện ra trong ADN lợn có ẩn chứa các gene của các virut - được gọi là Retrovirus - giống như những virut gây ra bệnh bạch cầu ở khỉ. Một số thí nghiệm cho thấy các virut này có thể lan truyền sang các tế bào người và có thể lây nhiễm cho người khác. Những lo ngại này đã khiến nghiên cứu dừng lại, mặc dù trước đó, một số bệnh nhân đái tháo đường đã được ghép tế bào tụy lợn và một số bệnh nhân bỏng được cấy ghép da lợn không thấy có biểu hiện bị nhiễm Retrovirus.

TS. George Church - nhà di truyền học thuộc Đại học Harvard, người dẫn đầu nghiên cứu, đã thành công trong việc giải quyết Retrovirus bằng công nghệ CRISPR - công nghệ chỉnh sửa gene mới. Họ lấy tế bào từ lợn và cắt phần ADN của virut ra khỏi bộ gene. Sau đó, các nhà khoa học nhân bản các tế bào đã được chỉnh sửa. Mỗi tế bào lợn được đưa trở lại giai đoạn phát triển sớm nhất và sau đó cấy vào trứng, mang theo vật liệu di truyền để trứng phát triển thành phôi. TS. Church và các cộng sự đã kết thúc nghiên cứu với 15 chú lợn con hoàn toàn không có Retrovirus.

Dù còn một chặng đường dài để chúng ta có thể áp dụng cấy ghép tạng động vật sang người trong y học một cách rộng rãi, nhưng TS. Church tin rằng, các cuộc cấy ghép tạng lợn lần đầu tiên ứng dụng công nghệ này có thể tiến hành trong vòng 2 năm tới.

Chỉnh sửa gene ở phôi thai người

Mới đây, TS. Shoukhrat Mitalipov - nhà nghiên cứu gene thuộc Đại học Y tế và Khoa học Oregon, Hoa Kỳ đã công bố những kết quả khi sử dụng phương pháp chỉnh sửa gene để điều chỉnh đột biến gây bệnh trong phôi thai người. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thí nghiệm bằng công cụ chỉnh sửa gene CRISPR. Kết quả thu được rất khả quan: 42 trong số 58 phôi sau chỉnh sửa không có gene gây bệnh. Ngoài ra, các phôi đã được sửa chữa không có những thay đổi ngoài ý muốn.

Các nhà khoa học thuộc Đại học Harvard cũng đã sử dụng một kỹ thuật chỉnh sửa gene để điều chỉnh đột biến gene trong phôi người liên quan đến rối loạn máu di truyền beta thalassemia (hay còn gọi là tan máu bẩm sinh). Hiệu quả của việc sửa chữa các đột biến thu được trong nghiên cứu chỉ khoảng 20%, tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu và kỹ thuật này hiện đang thu hút sự chú ý của quốc tế.

DS. Nguyễn Hải Đăng

((Theo USA Today, 2018))

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng gây biến chứng gì?

Bệnh gây đau thắt lưng và có thể gây biến chứng, thậm chí gây tàn phế nếu không được điều trị sớm và đúng.

Đĩa đệm và thoát vị đĩa đệm là gì?

Đĩa đệm được cấu tạo bởi 3 thành phần chính là nhân nhầy, vòng sợi và mỏm sụn và có cấu trúc dạng thớ sợi chắc, xếp theo hình vòng tâm, chứa nhân keo (tức là nhân nhầy đĩa đệm). Đĩa đệm có khả năng đàn hồi và biến dạng khi bị nén và đĩa đệm cũng có vai trò làm giảm chấn động tới các thân đốt sống. Vì vậy, người ta ví đĩa đệm như một bộ phận có tác dụng “làm giảm xóc”.

Thoát vị đĩa đệm cột sống xảy ra khi nhân keo của đĩa đệm thoát ra ngoài và chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống, hay nói cách khác nó là tình trạng đĩa đệm bị ép lồi ra khỏi vị trí bình thường, giữa các đốt sống. Thoát vị đĩa đệm thường tập trung ở các dạng chính là thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ và thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng. Khi thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng có chèn ép vào rễ dây thần kinh tọa (thần kinh hông) sẽ gây chứng đau thắt lưng và đau lan xuống chân (đó là đau dây thần kinh tọa). Trong bài viết này chỉ đề cập đến thoát vị cột sống thắt lưng.

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng gây biến chứng gì?Hình ảnh thoát vị đĩa đệm.

Nguyên gây nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng là một bệnh hay gặp nhất, vì đây là vị trí chịu nhiều tác động khác nhau trong cuộc sống hằng ngày. Thoát vị xảy ra do đứt, rách vòng sợi. Hướng của thoát vị đĩa đệm có thể ra sau, lệch bên, vào lỗ ghép gây chèn ép rễ, dây thần kinh vùng cột sống thắt lưng. Cũng có thể ra trước hoặc vào thân đốt, vì vậy, sau đợt cấp thường có hội chứng đau cột sống thắt lưng mạn tính. Vị trí thoát vị thường ở L4 - L5 và S1 do hai đĩa đệm này là bản lề vận động chủ yếu của cột sống. Nguyên nhân quan trọng nhất là do chấn thương, đặc biệt gặp ở người có thoái hóa cột sống thắt lưng, thóai hóa đĩa đệm. Bên cạnh đó phải kể đến yếu tố chấn thương ở những người bệnh đã thoái hóa cột sống thắt lưng. Nguyên nhân thứ hai, đó là do tác động cơ học kết hợp với tiền sử đã thoái hóa cột sống thắt lưng như làm một số hoạt động lặp đi lặp lại liên quan đến việc cúi gập người hoặc vặn xoay người quá mức, hoặc chơi các môn thể thao tác động mạnh (bóng đá, bóng chuyền, bóng chày, bóng rổ, chạy...); có thể xảy ra ở người béo phì do trọng lượng của cơ thể sẽ gây áp lực lên phần đĩa đệm ở thắt lưng hoặc ở người có tiền sử cong vẹo cột sống (bẩm sinh hoặc do ngồi sai tư thế). Với người cao tuổi, do lão hóa xương khớp, nặng hơn là thoái hóa cột sống, đặc biệt là cột sống thắt lưng, khi bưng bê vật nặng sai tư thế. Ngoài ra, một số tác giả còn đề cập đến yếu tố di truyền (nếu bố, mẹ bị mắc chứng bệnh này). Trong cuộc sống hằng ngày, nhiều người do đặc thù nghề nghiệp như ngồi lâu, ngồi nhiều giờ, lặp đi lặp lại nhiều tháng, nhiều năm cũng có thể gây nên thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng.

Biểu hiện của thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Đau thắt lưng là triệu chứng gần như lúc nào cũng có. Đau theo đường đi của rễ, dây thần kinh hông to, kèm theo lệch vẹo cột sống thắt lưng, co cứng cơ cạnh sống, tầm vận động cột sống thắt lưng giảm rõ rệt, thậm chí không thể cử động được trong một thời gian vài ba ngày, có khi lâu hơn và phải dùng thuốc giảm đau, giảm co cơ mới cử động được. Về sau, mỗi khi có những gắng sức tương tự, đau lại tái phát. Người bệnh khó thực hiện các động tác cột sống như cúi ngửa, nghiêng xoay người. Khi đã có sự chèn ép thần kinh, có các triệu chứng đau lan xuống chi dưới làm cho vận động chi dưới khó khăn. Người bệnh sẽ đau tăng khi đứng, đi, hắt hơi, rặn và nếu người bệnh được nằm nghỉ ngơi sẽ đỡ đau.

Biến chứng do thoát vị

Khi bị thoát vị, nếu không được xử trí kịp thời có thể trở thành bệnh mạn tính gây đau thắt lưng thường xuyên. Nếu có chèn ép thần kinh tọa và rễ thần kinh sẽ gây đau nhức, buốt ra vùng mông, dọc theo đùi xuống cẳng chân, mu bàn chân và ngón chân (đặc biệt là đau rát mu bàn chân phía bên có dây thần kinh tọa bị chèn ép). Bệnh tiến triển có thể gây teo cơ làm hạn chế vận động và đại tiểu tiện khó khăn do rối loạn cơ tròn, thậm chí phải thụt tháo và thông tiểu. Biến chứng này làm ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh.

Lời khuyên của thầy thuốcĐể phòng bệnh này cần hết sức tránh mang, vác, bưng, bê vật nặng sai tư thế. Tránh ngồi lâu, nhiều giờ liền, vì vậy, giữa các giờ làm việc nên đứng dậy, đi lại và vận động cơ thể. Những người có trọng lượng quá mức cần tập và ăn uống hợp lý để giảm béo. Cần tập thể dục nhẹ nhàng thường xuyên theo tư vấn của bác sĩ.

BS. Việt Anh

Ðiều trị hiệu quả chứng co thắt thực quản

Việc dễ dàng bỏ qua các dấu hiệu mà không phát hiện và điều trị kịp đau CTTQ không chỉ khiến bệnh trở nên nặng hơn, làm giảm chất lượng cuộc sống người bệnh, mà còn có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng. May mắn là một số phương pháp nhận biết và biện pháp khắc phục hiện nay có thể giúp phát hiện sớm các triệu chứng và điều trị kịp thời chứng CTTQ một cách hiệu quả.

Trong cơ thể, thực quản là ống nối giữa miệng và dạ dày. Thông thường, nó sử dụng một loạt các cơn co thắt có kiểm soát, phối hợp để vận chuyển thức ăn từ miệng đến dạ dày.

Nguyên nhân gây CTTQ

Một số loại thực phẩm hoặc điều kiện tiềm ẩn đôi khi có thể gây ra các cơn CTTQ bất thường. Những cơn co thắt này thường chỉ kéo dài vài phút hoặc vài giờ. Ngoài ra, trầm cảm cũng có thể gây co thắt thực quản. Những người bị lo âu hoặc trầm cảm có nhiều nguy cơ bị CTTQ hơn bình thường.

Một số yếu tố khác như: bệnh trào ngược đường tiêu hóa (GERD); tác dụng phụ của một số phương pháp điều trị ung thư, bao gồm cả phẫu thuật trên cổ hoặc bức xạ trên ngực... Các yếu tố nguy cơ: yếu tố tiền sử gia đình về tình trạng trào ngược, ăn thức ăn hoặc đồ uống rất nóng hoặc rất lạnh, thói quen uống rượu, người bị tăng huyết áp….

Ðiều trị hiệu quả chứng co thắt thực quảnTrào ngược dạ dày - thực quản có nguy cơ gây co thắt thực quản.

Xác định dấu hiệu CTTQ

CTTQ là một tình trạng không phổ biến, xuất hiện chủ yếu ở người lớn trên 60 tuổi. CTTQ thường gây đau ở cổ họng và ngực. Một người bị CTTQ có thể bị đau dữ dội hoặc đau thắt ngực. Có hai loại đau CTTQ chính gồm:

Đau thắt ngực: Đau đớn dữ dội nhưng không gây trào ngược, đó là khi axit dạ dày hoặc các chất khác bị đẩy trở lại vào thực quản.

Co thắt thực quản: Ít đau đớn hơn nhưng có thể gây trào ngược. Một người bị CTTQ có thể gặp các dấu hiệu và triệu chứng như: một cơn đau dữ dội hoặc cảm giác căng thẳng trong ngực, có thể bị nhầm lẫn với đau tim, cảm giác như có thứ gì đó bị kẹt trong cổ họng hoặc ngực, khó nuốt, ợ nóng….

CTTQ có thể được chẩn đoán bằng chụp chiếu, nội soi. Các bác sĩ cũng có thể sử dụng một ống mỏng chuyên dụng để đo các cơn co thắt trong thực quản.

Điều trị chứng CTTQ

Tùy vào nguyên nhân của CTTQ có thể giảm các triệu chứng bằng cách sử dụng thuốc, biện pháp tự nhiên và thay đổi chế độ ăn uống. Đơn giản nhất là xác định và tránh các loại thực phẩm gây kích thích co thắt như rượu vang đỏ, thực phẩm cay, thức ăn rất nóng hoặc lạnh... cho tới thay đổi lối sống và trong một số trường hợp nghiêm trọng, bệnh nhân phải dùng tới thuốc hoặc trải qua phẫu thuật. Nếu đó là do tình trạng béo phì, thì việc giảm cân, tránh quần áo chật, ăn quá no, ăn tối muộn và tránh hút thuốc…

Một số nghiên cứu cho thấy rằng, việc sử dụng các sản phẩm chiết xuất từ bạc hà tự nhiên có thể giúp giảm CTTQ. Một vài giọt tinh dầu bạc hà hoà trong nước uống trước bữa ăn có thể mang lại hiệu quả trong ngăn ngừa CTTQ ở một số người, trong khi đó tinh dầu xả xị và cam thảo có thể giúp thư giãn các cơ, kể cả những cơ trong thực quản.

Đối với các trường hợp nghiêm trọng hơn, có thể điều trị bằng thuốc. Một số thuốc giúp giảm căng thẳng và thuốc chống trầm cảm có thể được kê đơn cho bệnh nhân đau do CTTQ bởi trầm cảm, lo lắng. Thuốc ức chế bơm proton hoặc thuốc chẹn H2 có thể dùng cho những người bị trào ngược dạ dày thực quản (GERD). Sự kết hợp giữa các loại thuốc, liệu pháp giảm căng thẳng có thể giúp một người trầm cảm giảm bớt trạng thái lo lắng cơ bản.

Phẫu thuật

Phẫu thuật CTTQ có thể được sử dụng như biện pháp cuối cùng nếu các biện pháp khác không có hiệu quả. Có hai phương pháp giải phẫu cơ bản cho người bị mắc CTTQ bao gồm: Myotomy, trong đó bác sĩ phẫu thuật cắt các cơ ở đầu dưới của thực quản để làm suy yếu các cơn co thắt. Thứ hai là phẫu thuật nội soi cục bộ (POEM), bác sĩ phẫu thuật sử dụng một ống nội soi có gắn máy ảnh nhỏ xíu xuống cổ họng qua miệng bệnh nhân và rạch một đường trong thực quản để làm giảm các cơn co thắt.

Chăm sóc y tế trong những trường hợp nghiêm trọng

Bất cứ lúc nào bệnh nhân bị đau dữ dội hoặc cảm giác như đang bị siết chặt lồng ngực, nên liên hệ với bác sĩ để đi khám ngay. Mặc dù các triệu chứng này chỉ ra đó là một cơn CTTQ, song điều quan trọng là nó dễ bị nhầm lẫn với các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác chẳng hạn như một cơn đau tim.

Để xác định đó là CTTQ, ngoài thăm khám của bác sĩ có thể cần thực hiện các xét nghiệm, bao gồm: nội soi thực quản, chụp Xquang, kiểm tra độ pH thực quản để xem axit dạ dày có trào ngược vào thực quản hay không…..

Cuối cùng, chứng CTTQ có thể dễ dàng được kiểm soát bằng việc theo dõi và thăm khám định kỳ khi có các dấu hiệu nhận biết điển hình.

Minh Ngọc

((Theo MNT))

Các vấn đề tim, phổi và lựa chọn ICU

“Chúng tôi thấy rằng ICU không phải lúc nào cũng là lựa chọn. Hiện tại, chúng ta cần giúp các bác sĩ quyết định xem những bệnh nhân nào cần ...